Theo Công văn 1066: Cục Thuế giới thiệu một số điểm mới Nghị định 373/2025/NĐ-CP về quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 14/02/2026 ra sao?
Ngày 12/2/2026, Cục Thuế ban hành Công văn 1066/CT-CS giới thiệu Nghị định 373/2025/NĐ-CP.
Ngày 31/12/2025, Chính phủ ký ban hành Nghị định 373/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế 2019. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/02/2026.
Cục Thuế giới thiệu một số nội dung của Nghị định 373/2025/NĐ-CP và đề nghị cơ quan thuế nghiên cứu, thực hiện tuyên truyền, phổ biến nội dung của Nghị định 373/2025/NĐ-CP nêu trên tới công chức thuế và người nộp thuế để đảm bảo khả thi khi Nghị định này có hiệu lực thi hành.
(1) Về quy định người nộp thuế đã khai thuế theo quý nhưng không đủ điều kiện khai thuế theo quý
Điều 1 Nghị định 373/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 9 Nghị định 126/2020/NĐ-CP về trường hợp người nộp thuế đã thực hiện khai thuế theo quý nhưng không đủ điều kiện khai thuế theo quý. Theo đó, người nộp thuế không phải nộp Bán xác định số tiền thuế phải nộp theo tháng tăng thêm so với số đã kê khai theo quỹ. Người nộp thuế thực hiện khai thuế theo tháng kể từ tháng đầu của quỷ tiếp theo, nộp lại hồ sơ khai thuế theo tháng của các quỷ trước đó và tỉnh tiền chậm nộp theo quy định. Người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính về chậm nộp hồ sơ khai thuế đối với hồ sơ khai thuế của các kỳ tính thuế phải nộp lại do thay đổi kỳ tính thuế. Hồ sơ khai thuế các tháng đã nộp lại được xác định là hồ sơ thay thế cho hồ sơ khai thuế theo quý đã nộp.
Trước đây: Người nộp thuế đã thực hiện khai thuế theo quý nhưng không đủ điều kiện khai thuế theo quý và tự phát hiện không đủ điều kiện khai thuế theo quý thì không phải nộp lại hồ sơ khai thuế theo tháng của các quý trước đó nhưng phải nộp Bán xác định số tiền thuế phải nộp theo tháng tăng thêm so với số đã kê khai theo quy
(2) Về nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN
Điều 3 Nghị định 373/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b.2 khoản 8 Điều 11 theo hướng đơn giản hóa việc xác định nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có thu nhập tiền lương, tiền công thuộc diện tổ chức chi trả khấu trừ tại nguồn từ hai nơi trở lên. Theo đó, cá nhân thực hiện nộp hồ sơ quyết toán thuế tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức chi trả khoản thu nhập lớn nhất trong năm. Trường hợp có nhiều nguồn thu nhập lớn nhất trong năm mà các nguồn thu nhập đỏ bằng nhau thì cả nhân nộp hồ sơ quyết toán tại một trong những cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức chi trả các nguồn thu nhập lớn nhất trên. Trường hợp cá nhân nộp hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân không đúng quy định nêu trên thì cơ quan thuế nơi đã tiếp nhận hồ sơ của cả nhân đó căn cứ thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu ngành thuế hỗ trợ chuyển hồ sơ đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập để thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định pháp luật.
Trước đây: Về nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có thu nhập tiền lương, tiền công thuộc diện tổ chức chi trả khấu trừ tại nguồn từ hai nơi trở lên được quy định tại điểm 6.2 khoản 8 Điều 11 Nghị định 126/2020/NĐ-CP. Đồng thời, quy định trước đây chưa có cơ chế chuyển hồ sơ tự động giữa các cơ quan thuế.
Căn cứ tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định:
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
...
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
...
Theo đó, thu nhập từ tiền lương, tiền công phải nộp thuế thu nhập cá nhân gồm:
- Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
- Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
- Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
Căn cứ Điều 21 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định như sau:
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương tiền công
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công mà cá nhân không cư trú nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 20%, không phân biệt nơi trả thu nhập.
Theo đó, thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền lương tiền công mà cá nhân không cư trú nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 20%, không phân biệt nơi trả thu nhập.